Skip to content

Tiền “lương” của chủ sở hữu kiêm giám đốc công ty TNHH một thành viên không chịu thuế TNCN và không được trừ khi tính thuế TNDN?

Admin 01/08/202630 lượt đọc

Tại nhiều công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ, chủ sở hữu đồng thời giữ chức giám đốc và trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh. Công ty có thể ban hành quyết định bổ nhiệm, quy định mức lương và chi trả tiền hằng tháng cho người này.

Vấn đề đặt ra là khoản tiền đó có phải chịu thuế thu nhập cá nhân và có được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hay không?

Câu trả lời cần được xem xét riêng đối với từng sắc thuế. Không thể suy luận rằng một khoản không chịu thuế TNCN thì đương nhiên được trừ khi tính thuế TNDN, hoặc ngược lại.

1. Phạm vi trường hợp được phân tích

Bài viết này áp dụng đối với trường hợp đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

  • Doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ;
  • Cá nhân nhận tiền chính là chủ sở hữu công ty;
  • Chủ sở hữu đồng thời giữ chức giám đốc hoặc người trực tiếp điều hành công ty;
  • Công ty chi trả cho chủ sở hữu một khoản tiền định kỳ và gọi là “tiền lương” hoặc “tiền công”.

Kết luận trong bài không áp dụng cho giám đốc được thuê, người đại diện theo pháp luật không phải chủ sở hữu, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ.

2. Khoản tiền này có chịu thuế TNCN không?

Quy định chung về thu nhập từ tiền lương, tiền công

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công là:

Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.

Như vậy, một trong những dấu hiệu cơ bản để xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công là khoản thu nhập được người lao động nhận từ người sử dụng lao động.

Nghị định 253/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 30/6/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Hướng dẫn của cơ quan thuế đối với chủ sở hữu kiêm giám đốc

Tại Công văn 1590/TCT-DNNCN ngày 22/4/2019, Tổng cục Thuế đã xem xét trường hợp tổng giám đốc đồng thời là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ.

Theo hướng dẫn tại công văn, khoản tiền mà chủ sở hữu nhận được do chính mình chi trả không được xác định là thu nhập của người lao động nhận từ người sử dụng lao động. Vì vậy, khoản tiền này không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.

Cục Thuế TP. Hà Nội cũng có quan điểm tương tự tại Công văn 13697/CT-TTHT ngày 29/3/2019:

Khoản tiền lương mà Giám đốc Công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ nhận được do chính bản thân Giám đốc chi trả không phải là thu nhập của người lao động nhận được từ người sử dụng lao động; do đó, không chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.

Kết luận về thuế TNCN

Theo cách xử lý tại các công văn nêu trên, nếu cá nhân là chủ sở hữu đồng thời là giám đốc công ty TNHH một thành viên thì khoản “tiền lương” do công ty chi trả cho chính chủ sở hữu không được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận từ người sử dụng lao động. Do đó, công ty có cơ sở không khấu trừ thuế TNCN đối với khoản chi trả này khi tình tiết thực tế tương đồng với trường hợp đã được cơ quan thuế hướng dẫn.

Tuy nhiên, cần diễn đạt chính xác rằng khoản tiền này “không được xác định là thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công theo hướng dẫn của cơ quan thuế”, thay vì nói “tiền lương của chủ sở hữu được miễn thuế TNCN”.

Hai cách diễn đạt có hệ quả gần giống nhau về số thuế phải nộp nhưng khác nhau về bản chất pháp lý:

  • “Không thuộc thu nhập chịu thuế” là khoản thu nhập nằm ngoài phạm vi tính thuế;
  • “Thu nhập được miễn thuế” là khoản thu nhập thuộc đối tượng điều chỉnh nhưng được pháp luật quy định miễn thuế.

Lưu ý về giá trị áp dụng của các công văn

Công văn 1590/TCT-DNNCN và Công văn 13697/CT-TTHT là văn bản hướng dẫn xử lý các trường hợp cụ thể, không phải văn bản quy phạm pháp luật.

Các công văn này được ban hành năm 2019, trước khi Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Nghị định 253/2026/NĐ-CP vẫn xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công trên cơ sở khoản người lao động nhận từ người sử dụng lao động, nhưng chưa quy định riêng về khoản “lương” mà chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chi trả cho chính mình.

Vì vậy, các công văn năm 2019 là căn cứ tham khảo trực tiếp về cách áp dụng pháp luật của cơ quan thuế đối với tình huống này, nhưng không nên được trình bày như một quy định miễn thuế có giá trị áp dụng chung. Với khoản chi có giá trị trọng yếu hoặc tình tiết khác biệt, doanh nghiệp nên xin ý kiến bằng văn bản của cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

3. Khoản “tiền lương” có được trừ khi tính thuế TNDN không?

Đối với thuế TNDN, quy định hiện hành đã xác định trực tiếp và rõ ràng.

Điểm d khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ...

Như vậy, tiền lương, tiền công trả cho cá nhân là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Quy định này áp dụng kể cả khi:

  • Chủ sở hữu trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh;
  • Công ty có quyết định bổ nhiệm giám đốc;
  • Mức lương được quy định trong quy chế tài chính hoặc quy chế tiền lương;
  • Khoản tiền được thanh toán qua ngân hàng;
  • Doanh nghiệp đã khấu trừ hoặc kê khai các khoản bảo hiểm liên quan;
  • Khoản chi đã được ghi nhận vào chi phí trên sổ kế toán.

Căn cứ hiện hành là Nghị định 320/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025.

Không áp dụng nhầm điều kiện “không trực tiếp tham gia điều hành”

Cũng tại điểm d khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP còn quy định không được trừ đối với:

Thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị mà những người này không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh.

Điều kiện “không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh” chỉ gắn với thù lao trả cho sáng lập viên, thành viên hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị.

Đối với tiền lương, tiền công của cá nhân là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, quy định không đặt ra điều kiện này. Vì vậy, dù chủ sở hữu có trực tiếp điều hành công ty thì tiền lương, tiền công trả cho người đó vẫn không được trừ khi tính thuế TNDN.

4. Hạch toán kế toán và xử lý khi quyết toán thuế

Chi phí kế toán và chi phí được trừ khi tính thuế TNDN là hai khái niệm khác nhau.

Việc ghi nhận khoản chi trên sổ kế toán phải căn cứ vào bản chất giao dịch, hồ sơ thực tế và chế độ kế toán doanh nghiệp đang áp dụng. Trường hợp doanh nghiệp đã ghi nhận khoản tiền trả cho chủ sở hữu vào chi phí kế toán thì khi lập hồ sơ quyết toán thuế TNDN, doanh nghiệp phải loại khoản chi này và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế.

Không nên xử lý bằng cách bỏ ngoài sổ sách khoản tiền thực tế đã chi. Doanh nghiệp vẫn phải phản ánh giao dịch phù hợp với bản chất kinh tế, đồng thời thực hiện điều chỉnh thuế khi quyết toán.

5. Phân biệt “tiền lương” với lợi nhuận sau thuế được chia

Khoản “tiền lương” trả định kỳ và lợi nhuận sau thuế chủ sở hữu nhận được là hai khoản có bản chất khác nhau.

Điều 39 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế TNCN đối với:

Thu nhập của chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân là chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành lập theo pháp luật Việt Nam nhận được sau khi doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp.

Quy định này áp dụng đối với khoản thu nhập chủ sở hữu nhận từ lợi nhuận còn lại sau khi công ty hoàn thành nghĩa vụ thuế TNDN. Đây không phải căn cứ trực tiếp để kết luận khoản chi hằng tháng mang tên “tiền lương” được miễn thuế.

Doanh nghiệp cần phân biệt:

Khoản chi trảThuế TNCNThuế TNDN
“Tiền lương” trả cho cá nhân là chủ sở hữu kiêm giám đốcTheo hướng dẫn tại các công văn năm 2019, không được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế nếu tình tiết tương đồngKhông được trừ theo điểm d khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP
Lợi nhuận sau thuế trả cho chủ sở hữuĐược miễn thuế theo Điều 39 Nghị định 253/2026/NĐ-CPKhông phải chi phí của doanh nghiệp
Tiền lương trả cho giám đốc được thuê, không phải chủ sở hữuLà thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế theo quy định chungCó thể được trừ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật thuế TNDN

6. Ví dụ minh họa

Ông A là chủ sở hữu duy nhất đồng thời là giám đốc Công ty TNHH X. Công ty quy định và chi trả cho ông A 30 triệu đồng mỗi tháng, tương đương 360 triệu đồng một năm.

Trong trường hợp tình tiết thực tế tương đồng với các công văn đã nêu:

  • Về thuế TNCN: khoản 360 triệu đồng không được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế theo cách xử lý tại Công văn 1590/TCT-DNNCN và Công văn 13697/CT-TTHT;
  • Về thuế TNDN: toàn bộ 360 triệu đồng không được tính vào chi phí được trừ;
  • Nếu công ty đã ghi nhận 360 triệu đồng vào chi phí kế toán thì phải loại khoản này khi quyết toán thuế TNDN;
  • Nếu công ty có lợi nhuận sau thuế và thực hiện phân phối cho ông A thì khoản lợi nhuận sau thuế ông A nhận được thuộc trường hợp miễn thuế TNCN theo Điều 39 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

7. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp

Để hạn chế rủi ro khi quyết toán thuế, doanh nghiệp nên:

  • Xác định đúng tư cách của người nhận tiền: chủ sở hữu hay người quản lý được thuê;
  • Không đưa tiền lương, tiền công của chủ sở hữu vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN;
  • Phân biệt rõ khoản chi trả định kỳ với lợi nhuận sau thuế được phân phối;
  • Lưu giữ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm, chứng từ chi trả, nghị quyết hoặc quyết định phân phối lợi nhuận;
  • Không sử dụng tên gọi của chứng từ làm căn cứ duy nhất để xác định nghĩa vụ thuế; cần xem xét bản chất thực tế của khoản tiền;
  • Xin ý kiến cơ quan thuế quản lý trực tiếp nếu khoản chi có giá trị lớn hoặc tình tiết không hoàn toàn tương đồng với các trường hợp đã được hướng dẫn.

Kết luận

Đối với công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ, khoản tiền mang tên “tiền lương” trả cho chính chủ sở hữu kiêm giám đốc được xử lý khác nhau giữa hai sắc thuế:

  • Về thuế TNCN, theo các công văn hướng dẫn của cơ quan thuế đối với trường hợp cụ thể, khoản tiền này không được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận từ người sử dụng lao động và không thuộc đối tượng chịu thuế TNCN nếu tình tiết thực tế tương đồng. 
  • Về thuế TNDN, khoản tiền lương, tiền công trả cho chủ sở hữu không được tính vào chi phí được trừ theo quy định trực tiếp tại điểm d khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP;
  • Lợi nhuận sau thuế chủ sở hữu nhận được là một khoản khác và thuộc trường hợp miễn thuế TNCN theo Điều 39 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Do đó, doanh nghiệp không nên chỉ căn cứ vào tên gọi “tiền lương” hoặc “lợi nhuận” trên chứng từ mà cần xác định đúng bản chất khoản chi, tư cách người nhận và căn cứ pháp lý tương ứng trước khi kê khai thuế.

Lưu ý: Bài viết được cập nhật theo quy định có hiệu lực tại thời điểm tháng 8/2026 và nhằm mục đích phổ biến kiến thức. Việc áp dụng cho từng doanh nghiệp cần căn cứ hồ sơ và tình tiết thực tế.

5/5 (1 bầu chọn)