Skip to content

Công văn 3705/CT-CS: Chính sách thuế và hóa đơn đối với hoạt động cho thuê lại lao động

Admin 17/08/202619 lượt đọc

Ngày 05/6/2026, Cục Thuế ban hành Công văn số 3705/CT-CS gửi Thuế tỉnh Phú Thọ, trả lời Công văn số 2025/PTH-QLDN5 và Công văn số 2931/PTH-QLDN1 về chính sách thuế.

Công văn đề cập đến các quy định về cho thuê lại lao động, việc lập hóa đơn, khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT),cũng như xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Đáng chú ý, Công văn nhắc lại nguyên tắc: trường hợp doanh nghiệp có khoản chi vi phạm pháp luật chuyên ngành thì khoản chi đó không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Toàn văn Công văn được đăng tải dưới đây để bạn đọc tiện tra cứu, đối chiếu.

Công văn số 3705/CT-CS xem tại đây

Nhận định và khuyến nghị dành cho doanh nghiệp

Phần dưới đây là nhận định và khuyến nghị chuyên môn của ICAW trên cơ sở Công văn 3705/CT-CS và các quy định pháp luật có liên quan. Nội dung này không phải là kết luận bổ sung của Cục Thuế.

1. Trước hết cần xác định đúng bản chất của việc sử dụng lao động qua bên thứ ba

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất, gia công, có nhu cầu bổ sung nhân sự trong thời gian cao điểm hoặc khi đơn hàng tăng đột biến.

Trong thực tế, việc sử dụng nhân sự có thể được tổ chức theo những mô hình khác nhau, chẳng hạn:

  • doanh nghiệp trực tiếp giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
  • doanh nghiệp ký hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng khoán với một nhà cung cấp, trong đó nhà cung cấp tự tổ chức và quản lý nhân sự để thực hiện công việc đã thỏa thuận;
  • doanh nghiệp sử dụng người lao động do doanh nghiệp cho thuê lại lao động cung cấp theo cơ chế cho thuê lại lao động.

Các trường hợp trên có bản chất pháp lý khác nhau. Vì vậy, tên gọi của hợp đồng không phải là yếu tố duy nhất để xác định quan hệ đang áp dụng; cần xem xét nội dung thỏa thuận và cách thức tổ chức, quản lý lao động trên thực tế.

Theo Điều 52 Bộ luật Lao động 2019, cho thuê lại lao động là trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác nhưng vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp đã giao kết hợp đồng. Hoạt động này là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi doanh nghiệp có giấy phép và đối với một số công việc nhất định.

Do đó, bước đầu tiên đối với doanh nghiệp là xác định giao dịch đang thực hiện có thực chất là hoạt động cho thuê lại lao động hay là một loại quan hệ dịch vụ khác.

2. Những yêu cầu pháp luật lao động cần đặc biệt kiểm tra

Đối với giao dịch thực chất là cho thuê lại lao động, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề sau.

Công việc có thuộc danh mục được phép cho thuê lại lao động không?

Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định Danh mục 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động. Công văn 3705/CT-CS cũng trực tiếp viện dẫn danh mục này. Nghị định 145/2020/NĐ-CP hiện vẫn là văn bản quy định chi tiết Bộ luật Lao động về nội dung này.

Doanh nghiệp cần đối chiếu công việc thực tế mà người lao động thực hiện, thay vì chỉ dựa vào những tên gọi chung trên hợp đồng như “cung ứng nhân sự”, “hỗ trợ sản xuất” hay “nhân công thời vụ”.

Nhà cung cấp có giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động hay không?

Theo Điều 52 Bộ luật Lao động 2019, hoạt động cho thuê lại lao động chỉ được thực hiện bởi doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động. Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về ký quỹ, cấp, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép.

Vì vậy, nếu giao dịch thuộc bản chất cho thuê lại lao động, bên sử dụng lao động nên kiểm tra giấy phép của nhà cung cấp và tình trạng hiệu lực của giấy phép.

Việc sử dụng lao động thuê lại còn phải đáp ứng Điều 53 Bộ luật Lao động

Việc công việc thuộc Danh mục 20 công việc và nhà cung cấp có giấy phép chưa đồng nghĩa giao dịch đã đáp ứng toàn bộ quy định về cho thuê lại lao động.

Điều 53 Bộ luật Lao động 2019 còn quy định về nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động, bao gồm thời hạn cho thuê lại tối đa 12 tháng, các trường hợp bên thuê lại được sử dụng lao động thuê lại và các trường hợp không được sử dụng lao động thuê lại.

Doanh nghiệp vì vậy cần đánh giá tổng thể giao dịch theo pháp luật lao động, thay vì chỉ kiểm tra riêng danh mục công việc và giấy phép.

3. Thuế TNDN: không đáp ứng pháp luật chuyên ngành có thể dẫn đến không được trừ chi phí

Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp nhất từ Công văn 3705/CT-CS.

Khoản 23 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành thuộc nhóm khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Nghị định 320/2025/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực; Nghị định 141/2026/NĐ-CP có bổ sung Nghị định 320 nhưng chỉ bổ sung khoản 15 Điều 4, không thay đổi khoản 23 Điều 10 đang được viện dẫn trong trường hợp này.

Trên cơ sở quy định này, Công văn 3705/CT-CS nêu nguyên tắc:

Trường hợp doanh nghiệp có khoản chi mà khoản chi đó vi phạm pháp luật chuyên ngành thì không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Sau Công văn 3705/CT-CS, Cục Thuế tiếp tục có Công văn 4637/CT-CS ngày 08/7/2026 và đưa ra trường hợp cụ thể hơn: nếu doanh nghiệp phát sinh chi phí thuê lao động từ doanh nghiệp cho thuê lại lao động nhưng công việc thực hiện không thuộc Danh mục 20 công việc được phép cho thuê lại lao động tại Phụ lục II Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thì khoản chi thuê lao động đó không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

Như vậy, đối với thuế TNDN, doanh nghiệp cần lưu ý rằng:

Có hóa đơn, chứng từ và thanh toán đầy đủ chưa chắc đã đủ để khoản chi được trừ nếu bản thân nội dung chi không đáp ứng quy định của pháp luật chuyên ngành.

Đối với hoạt động cho thuê lại lao động, việc rà soát tính phù hợp với pháp luật lao động vì vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá rủi ro thuế TNDN.

4. Thuế GTGT và hóa đơn cần được đánh giá riêng

Một điểm quan trọng là không nên đồng nhất hệ quả thuế TNDN với thuế GTGT.

Công văn 3705/CT-CS không kết luận rằng cứ không đáp ứng quy định về cho thuê lại lao động thì thuế GTGT đầu vào tương ứng mặc nhiên không được khấu trừ.

Đối với thuế GTGT, Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế quản lý căn cứ ý kiến của cơ quan chuyên ngành, quy định pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng và hồ sơ thực tế để xem xét việc đáp ứng điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Công văn viện dẫn Điều 14 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.

Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2025 và sau đó đã được sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản có liên quan; Nghị định 181/2025/NĐ-CP cũng đã được sửa đổi bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP và Nghị định 144/2026/NĐ-CP. Các văn bản sửa đổi này hiện đều đã có hiệu lực.

Do đó:

Việc một khoản chi không được trừ khi tính TNDN không có nghĩa thuế GTGT đầu vào của khoản chi đó tự động bị loại theo cùng một cơ chế.

Điều kiện khấu trừ VAT cần được đánh giá riêng theo quy định thuế GTGT đang có hiệu lực, tính chất giao dịch, hóa đơn, chứng từ, điều kiện thanh toán và hồ sơ thực tế của từng trường hợp.

Về hóa đơn

Công văn 3705/CT-CS cũng không đưa ra một cơ chế hóa đơn riêng áp dụng chung cho mọi trường hợp cho thuê lại lao động.

Cục Thuế yêu cầu Thuế tỉnh Phú Thọ căn cứ quy định pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng và hồ sơ thực tế để hướng dẫn xử lý.

Điều này tiếp tục cho thấy việc xác định đúng bản chất giao dịch là bước quan trọng. Doanh nghiệp không nên đánh giá một giao dịch chỉ dựa trên tên hợp đồng hoặc nội dung ghi trên hóa đơn.

Đối với hồ sơ phát sinh qua nhiều năm, doanh nghiệp cũng cần áp dụng đúng quy định có hiệu lực tại thời điểm phát sinh giao dịch, thay vì sử dụng quy định hiện hành để đánh giá đồng loạt toàn bộ các kỳ trước.

5. Doanh nghiệp nên làm gì?

Đối với doanh nghiệp đang sử dụng lao động thông qua các công ty cung ứng nhân sự, đặc biệt là doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất, ICAW khuyến nghị tập trung vào các bước sau:

  • Rà soát bản chất hợp đồng với nhà cung cấp nhân sự để xác định giao dịch là cho thuê lại lao động hay một dịch vụ độc lập khác.
  • Nếu là cho thuê lại lao động, đối chiếu công việc thực tế với Danh mục 20 công việc tại Phụ lục II Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  • Kiểm tra giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động của nhà cung cấp và tình trạng hiệu lực của giấy phép.
  • Kiểm tra các yêu cầu khác tại Điều 53 Bộ luật Lao động 2019, bao gồm thời hạn và các trường hợp được hoặc không được sử dụng lao động thuê lại.
  • Rà soát sự thống nhất giữa hợp đồng, cách thức quản lý người lao động, bảng đối soát, hóa đơn, chứng từ thanh toán và thực tế thực hiện công việc.
  • Đánh giá riêng rủi ro chi phí TNDN và điều kiện khấu trừ thuế GTGT, không mặc nhiên coi hệ quả của hai sắc thuế là giống nhau.
  • Đối với các hợp đồng có giá trị lớn hoặc có dấu hiệu chưa đáp ứng pháp luật lao động, nên thực hiện đánh giá chuyên sâu trước khi quyết toán thuế hoặc trước khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra.

Kết luận

Công văn 3705/CT-CS và nội dung được Cục Thuế tiếp tục làm rõ tại Công văn 4637/CT-CS cho thấy một vấn đề doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý:

Tính được trừ của một khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không chỉ phụ thuộc vào hóa đơn, chứng từ và thanh toán, mà trong những trường hợp nhất định còn phụ thuộc vào việc nội dung chi có đáp ứng quy định của pháp luật chuyên ngành hay không.

Đối với hoạt động cho thuê lại lao động, doanh nghiệp vì vậy không nên chỉ kiểm tra “có hóa đơn hay không”, mà cần xác định đúng bản chất quan hệ, rà soát tính phù hợp với pháp luật lao động và sau đó đánh giá riêng từng hệ quả thuế có liên quan.

Riêng đối với thuế GTGT, cần thận trọng không suy rộng kết luận về chi phí TNDN thành việc mặc nhiên không được khấu trừ VAT. Việc khấu trừ thuế GTGT phải được đánh giá riêng theo quy định thuế GTGT và hồ sơ thực tế của từng trường hợp.

Nguồn tham khảo và cơ sở pháp lý

  • Công văn số 3705/CT-CS ngày 05/6/2026 của Cục Thuế về chính sách thuế.
  • Công văn số 4637/CT-CS ngày 08/7/2026 của Cục Thuế về xử lý vướng mắc liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, đặc biệt Điều 52 và Điều 53.
  • Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, bao gồm Phụ lục II về Danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động.
  • Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, đặc biệt khoản 23 Điều 10; Nghị định này được bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.
  • Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, đã được sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản có liên quan đang có hiệu lực.
  • Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP và Nghị định số 144/2026/NĐ-CP.

Lưu ý: Công văn 3705/CT-CS và Công văn 4637/CT-CS không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Bài viết cung cấp thông tin chuyên môn chung trên cơ sở nội dung các công văn và quy định pháp luật được viện dẫn, không thay thế việc đánh giá hợp đồng, hồ sơ và các tình tiết thực tế của từng doanh nghiệp.

5/5 (1 bầu chọn)